hotline filazym

Giai đoạn của bệnh viêm cơ tim

dau-that-nguc

Filazym – Bạn đồng hành cho sức khỏe tim mạch: Sự khởi phát và phát triển của bệnh viêm cơ tim trải qua ba giai đoạn cơ bản như sau:

GIAI ĐOẠN 1: NHIỄM VIRUS VIÊM CƠ TIM

Các chủng enterovirus như Coxsackie B3 và B4 là những virus ưu thế được phát hiện cả về huyết thanh hoặc phương pháp phân tử trực tiếp như PCR(polymerase chain reaction) hoặc lai hoá in situ (in situ hybridization).

 Gần đây do kỷ thuật phân tử phát triển hơn và do dịch tễ học đã thay đổi, một số tác nhân virus trở nên chiếm ưu thế. Đó là adenovirus mà thường gặp ở người trẻ, virus viêm gan C. Nhiễm HIV thường liên quan với suy tim mất bù

Gần đây người ta đã xác định được receptor coxsackie-adenovirus (CAR) mà nó cho phép đưa genome virus Coxsackie vào trong sau khi kết dính và là bước tiếp theo để nhiễm virus, tuơng tự CAR cho adenovirus

Giai đoạn 1 của bệnh được khởi động bằng cách virus gây bệnh xâm nhập và tăng sinh ở trong cơ tim. Giai đoạn 1 cũng bao hàm cả hoạt hoá hệ thống miễn dịch vật chủ mà nó làm giảm tăng sinh virus nhưng đồng thời làm gia tăng xâm nhập virus vào bên trong.

Virus xập nhập vào cơ tim
Virus xập nhập vào cơ tim

 GIAI ĐOẠN 2: TỰ MIỄN

Lý tưởng nhất, hệ thống miễn dịch tự trở về tình trạng nghỉ ngơi ban đầu nếu như tăng sinh virus được kiểm soát. Tuy nhiên nếu hoạt hoá miễn dịch của vật chủ vẫn tiếp tục không suy giảm dù đã loại bỏ được virus thì bệnh tự miễn có thể sẽ xãy ra và khởi phát giai đoạn 2.

Tế bào T tự phản ứng: Khi có nhiễm virus ở cơ tim, tế bào T bị khởi động theo miễn dịch trung gian qua tế bào kinh điển. Các đoạn peptide virus được xử lý ở bộ máy Golgi của tế bào vật chủ và trình bày tại bề mặt tế bào.

Hoạt hoá miễn dịch này có tính chất bảo vệ khi mà tế bào T tìm kiếm những tế bào nhiễm virus và phá huỷ chúng bằng cách sản xuất cytokine hoặc ly giải tế bào qua trung gian perforin.

Tuy nhiên hoạt hoá tiếp tục tế bào T cuối cùng gây hại cho vật chủ, bởi vì tổn thương qua trung gian cytokine và tế bào T làm giảm số lượng đơn vị co bóp cuả cơ tim.

Tác dụng này tích lũy dần gây suy giảm chức năng co bóp mà dẫn đến tái cấu trúc lâu dài và tiến triển bệnh cơ tim dãn nỡ.

 Hoạt hoá cytokine: Chất trung gian chủ yếu hoạt hoá miễn dịch và duy trì đáp ứng miễn dịch là cytokines. Matsumori và cs cho thấy rằng các bệnh nhân viêm cơ tim có hoạt hoá mạnh mẽ cytokine bao gồm yêú tố hoại tử mô a (TNF-a ), interleukin-1 và 6.

Cytokine góp phần quan trọng đối với dạng biểu hiện bệnh. Thực tế, một số bệnh nhân rối loạn chức năng thất phục hồi hoàn tòan có thể do tiếp xúc ngắn hạn với cytokine.

 Gần đây, một nghiên cứu bệnh sử tự nhiên ở bệnh nhân viêm cơ tim tối cấp so với người viêm cơ tim không tối cấp, cho thấy rằng theo dõi sau 5,6 năm, 93% bệnh nhân viêm cơ tim tối cấp còn sống so với 45% người viêm cơ tim nhẹ hơn.

GIAI ĐOẠN 3: BỆNH CƠ TIM GIÃN NỞ

Cytokine có thể góp phần tiến triển bệnh cơ tim dãn nỡ. Trong giai đoạn miễn dịch, chúng hoạt hoá matrix metalloproteinase như gelatinase, collagenase và elastase. Bệnh lý cơ tim dãn nỡ gặp trong mẫu thực nghiệm có thể cải thiện qua điều trị nhằm ngăn cản vào sự thoái gián chất gian bào như là chất ức chế elastase.

Virus cũng có thể trực tiếp gây cái chết của tế bào cơ tim. Sự tồn tại virus tiếp tục sẽ liên quan với hậu quả xấu hơn (tử vong sớm hoặc cần ghép tim).

 Trong giai đoạn sau của quá trình hoạt hoá miễn dịch, cytokine giữ vai trò hàng đầu gây tái cấu trúc bất lợi và tiến triển suy tim. Điều này thể hiện rõ trong nghiên cứu của Nakamura và cs. Lúc đầu, họ cho nhiễm virus chỉ gây bệnh tim nhẹ. Tuy nhiên, ở lần đưa vào thứ 2 nhiều ngày sau đó , tim nhanh chóng bị dãn nở.

 Bệnh cơ tim tiến triển dù không có sự tăng sinh của virus nhưng nó liên quan với sự gia tăng nồng độ cytokine như yếu tố hoại tử mô (TNF)

Để tìm hiểu về cách điều trị các giai đoạn viêm cơ tim. XEM TẠI ĐÂY 

Chuyên gia quốc tế bệnh Viện Nông Nghiệp

Thạc sỹ, Bác sỹ: Trần Văn Thắng

dau-that-nguc